Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013
Chú tiểu trước sân chùa
Vâng, chính sự trong sáng của tâm hồn, nét mặt hiền hòa, thư thái, sẽ giúp ích rất nhiều cho cuộc sống tất bật như thời nay. NTPG xin giới thiệu một số hình ảnh chú tiểu như thế, xin mời quý đọc giả thưởng lãm nha.
Giữ gìn chánh niệm là một "công việc" mà Tiểu cần làm hàng ngày
và Tiểu cũng phải tập oai nghi, nói năng đi đứng nhẹ nhàng
việc quét lá sân chùa cũng là để vườn hoa tâm sạch đẹp
vậy mà cũng có khi Tiểu...ngủ ngon lành giữa thời khóa tụng kinh
tham ngủ nhiều khi cũng lắm tác hại, nhất là bị sư phụ cho... quỳ hương
Tiểu rút kinh nghiệm... chuyển thế ngủ nằm sang ngủ ngồi, hì hì
rồi Tiểu cũng vượt qua cơn lười biếng, siêng năng tập tọa thiền
tinh tấn niệm Phật
sư phụ của Tiểu dặn: Tu và Học cả hai đều quan trọng
Tu và Học phải luôn song hành, như đôi cánh chim bay
và luôn tâm nguyện hoằng pháp độ sanh
xem cỏ hoa, muông thú như là anh em một nhà
biết đâu chú thỏ dễ thương này là...sư huynh của Tiểu từ muôn kiếp trước
Cánh hoa xinh này cũng thế, trông rất thân quen
soi xét như vậy, Tiểu thấy lòng mình thật là thanh thản
có hôm Tiểu tọa thiền rất lâu
nên được chư huynh đệ quý mến
sao hôm nay tự nhiên buồn ngủ quá
Thôi thì rót một ly trà uống chơi
uống một mình cũng buồn,Tiểu mời sư huynh cùng uống
hết trà rồi, Tiểu đội lá Sen đi mua trà Hương Sen,
bye bye nhé, hẹn gặp lại
Ảnh: Q.Mẫn st, lời: Tuệ Không
Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013
TÌM HIỂU VỀ THỜ CÚNG CỬU HUYỀN THẤT TỔ
TÌM HIỂU
VỀ THỜ CÚNG CỬU HUYỀN THẤT TỔ
___
Lời Kính cáo:
Việc thờ cúng Cửu Huyền Thất Tổ là một chủ đề cần tìm hiểu trong Chuyên đề Nghi Lễ, tuy nhiên do chưa tìm thấy tài liệu hướng dẫn của Hội Thánh, nên trong kỳ nầy, được sự đồng ý của Hướng Dẫn Viên, Ban Điều Hợp có trích dẫn Biên sọan của Tác giả HT. Nguyễn văn Hồng - tự Đức Nguyên trong “Cao Đài Tự Điển” và “Quyển Bước Đầu Học Đạo” để quý Tham Dự Viên tùy nghi tham khảo.
Xin lưu ý là Bài Trích đăng nầy không phải là Bài Hướng Đẫn Giáo Lý mà chỉ là Tài liệu có giá trị tham khảo để tìm hiễu thêm về Thờ Cúng Cửu Huyền Thất Tổ.
Ngoài ra, nếu chư Vị nào có Tài liệu của Hội Thánh hướng đẫn về thờ cúng Cửu Huyền Thất Tổ, xin hoan hỉ gởi về cho Ban Thế Đạo (Ban điều Hợp CTGL) để làm Tài liệu nghiên cứu chung.
Xin thành thật cám ơn.
* * *
TÌM HIỂU VỀ CỬU HUYỀN THẤT TỔ
(Trích trong Cao Đài Tự Điển - Đức Nguyên)
* CỬU HUYỀN THẤT TỔ.
Cửu: Chín, thứ chín. Huyền: ý nói đời, thế hệ. Thất: bảy.
Thất Tổ là bảy ông Tổ của dòng họ nhà mình.
Thờ Cửu Huyền thì mình là cháu chín đời thờ Tổ Tiên chín đời trước của dòng họ nhà mình.
Tại sao chỉ thờ tới Thất Tổ mà không thờ tới Bát Tổ?
Tại sao không nói thờ Cửu Tổ mà nói thờ Cửu Huyền?
Tại sao không nói thờ Cửu Tổ mà nói thờ Cửu Huyền?
Nho giáo thời xưa qui định cách thờ Tổ Tiên có thứ bực từ dân cho đến vua như sau:
- Sĩ và thứ dân chỉ được thờ tới Nhứt Tổ (Ông Nội).
- Các quan Ðại Phu được thờ tới Tam Tổ.
- Các vua chư Hầu được thờ tới Ngũ Tổ.
- Hoàng Ðế (Thiên tử) thì thờ tới Thất Tổ.
Theo qui định nầy, chúng ta không được thờ tới Thất Tổ (vì thờ Thất Tổ chỉ dành cho Vua), nhưng muốn thờ Tổ Tiên những bực cao hơn nữa thì chúng ta nói là thờ Cửu Huyền, tránh dùng chữ Thất Tổ mà bị tội phạm thượng. Ðó là nói theo thời có Vua chúa thuở xưa.
Thờ cúng Cửu Huyền Thất Tổ là tỏ lòng kính trọng các bực tiền nhân Tổ tiên chúng ta trong buổi sanh tiền đã dày công giáo hóa, chỉ bảo công việc làm ăn, dạy bảo cử chỉ hành động sao cho được tốt đẹp, hợp đạo lý, để phát huy sự nghiệp của Tổ tiên và làm rạng rỡ Tổ tiên.
A- Giải thích Cửu Huyền Thất Tổ chung trong một hệ thống:
Sau đây là Bảng Hệ thống Cửu Huyền Thất Tổ:
Theo Hệ thống Cửu Huyền Thất Tổ nầy thì:
- Phụ thân (Cha) chưa được liệt vào hàng Thất Tổ, mà Ông Nội (Nội Tổ) mới được liệt vào hàng Thất Tổ.
- Từ Bản thân lên tới Ông Thỉ Tổ (Ông Sơ của Ông Sơ) là chín đời, cho nên mới gọi là thờ Cửu Huyền.
Bảng Hệ thống Cửu Huyền Thất Tổ nầy rất đơn giản và giải thích dễ hiểu hơn tất cả.
B- Giải thích Cửu Huyền Thất Tổ theo hai Hệ thống riêng:
1)- Giải thích Thất Tổ theo bản đồ Thất Tổ miếu:
Theo Bản đồ Thất Tổ Miếu, sự giải thích về Thất Tổ có hơi khác: Cha (Phụ thân) được liệt vào hàng Thất Tổ.
Do đó, Bản đồ Thất Tổ miếu thờ bảy vị Tổ sau đây:
| 7- Thỉ Tổ (Tỷ Khảo) |
:
| Thất Tổ |
| 6- Viễn Tổ (Tỷ Khảo) |
:
| Lục Tổ |
| 5- Tiên Tổ (Tỷ Khảo) |
:
| Ngũ Tổ |
| 4- Cao Tổ (Tỷ Khảo) |
:
| Tứ Tổ |
| 3- Tằng Tổ (Tỷ Khảo) |
:
| Tam Tổ |
| 2- Nội Tổ (Tỷ Khảo) |
:
| Nhị Tổ |
| 1- Phụ thân (Tỷ Khảo) |
:
| Nhứt Tổ |
(Trên Bản đồ Thất Tổ Miếu, hai chữ: Tỷ Khảo là Ông Bà đã chết)
2)- Giải thích Cửu Huyền theo Cửu Tộc:
Thờ Cửu Huyền là con cháu đời thứ chín thờ những vị Tổ thuộc chín đời trước mình, tính theo trực hệ.
Cách gọi tên trong Cửu Huyền lấy theo cách gọi tên trong Cửu Tộc thời nhà Hán bên Tàu: Lấy Bản thân làm gốc, lên trên bốn đời, xuống dưới bốn đời.
| 1- Cao Tổ |
:
| Ông Sơ. |
| 2- Tằng Tổ |
:
| Ông Cố. |
| 3- Tổ Phụ |
:
| Ông Nội. |
| 4- Phụ |
:
| Cha. |
| 5- Bản thân. | ||
| 6- Tử |
:
| Con trai. |
| 7- Tôn |
:
| Cháu nội. |
| 8- Tằng tôn |
:
| Chắt (Cháu cố) |
| 9- Huyền tôn |
:
| Chít hay Chút (Cháu sơ). |
Như vậy, thờ Cửu Huyền, cúng lạy Cửu Huyền là cúng lạy cả con cháu của mình nữa hay sao?
Ðiều nầy có thể được giải thích bởi nhiều lẽ như sau:
1- Vấn đề đặt tên, danh từ: có Bản thân, có ông cha 4 đời trước, có con cháu 4 đời sau, là để gợi lên cho dễ hiểu, dễ phân định, trong đó gồm có người sống (Dương) và người chết (Âm). Gọi như thế để tượng trưng đủ cả Âm Dương.
2- Gọi như thế để chỉ 3 đời nối tiếp nhau (Tam thế):
- Ðời quá khứ là các Tổ Tiên
- Ðời hiện tại là mình
- Ðời tương lai là các con cháu của mình.
3- Gọi như thế để chỉ rằng có sự luân hồi chuyển kiếp trong dòng họ:
Có thể có những vị Tổ của các đời lâu xa trước, nay đầu thai trở lại trong dòng họ mình, làm con cháu mình để thực thi nhân quả; và chính mình đây cũng có thể là một vị Tổ đầu kiếp trở lại.
4- Gọi như thế để thể hiện sự vay trả:
Bản thân mình đứng giữa, vay lớp trên 4 đời, trả cho lớp dưới 4 đời. Cho nên, công đức hay tội lỗi của mình tạo ra trong kiếp sanh nầy có ảnh hưởng đến Tổ Tiên 4 đời trước mình, và cũng ảnh hưởng đến con cháu 4 đời sau mình.
Phước đức của mình tạo ra, cả Cửu Huyền đều thọ hưởng, tức là 4 đời Tổ có hưởng và con cháu 4 đời sau có hưởng.
Tội lỗi mình gây ra thì Tổ Tiên 4 đời trước mình phải chịu khổ tâm nơi cõi Thiêng liêng và nếu trong kiếp sanh nầy mình trả chưa hết, thì con cháu 4 đời sau mình phải gánh trả.
Ðức Chí Tôn có giáng cơ dạy về Cửu Huyền Thất Tổ trong bài Thánh Ngôn sau đây: (Theo Chí Thiện Phan Trung Chẩm, bài nầy do Chí Thiện Nguyễn văn Ninh cầu Ðức Chí Tôn tại Minh Thiện Ðàn, Phú Mỹ, Mỹ Tho)
"Thầy, các con,
Con chưa rõ Cửu Huyền Thất Tổ,
Thầy vui lòng chỉ chỗ chưa rành.
Kể từ Phụ Mẫu sơ sanh,
Cũng nhờ Tổ đức lập thành chánh chơn.
Thầy vui lòng chỉ chỗ chưa rành.
Kể từ Phụ Mẫu sơ sanh,
Cũng nhờ Tổ đức lập thành chánh chơn.
Người chưa rõ nguồn cơn trong đó,
Nên dể duôi đành bỏ rã rời.
Từ con lên đó năm đời,
Từ con xuống đó bốn đời chia ra.
Nên dể duôi đành bỏ rã rời.
Từ con lên đó năm đời,
Từ con xuống đó bốn đời chia ra.
Trong số ngũ (5) sớt ra làm chín (9),
Chiết mình con là định trung hòa.
Trước con là gọi mẹ cha,
Sau con kế đó nó là cháu con.
Chiết mình con là định trung hòa.
Trước con là gọi mẹ cha,
Sau con kế đó nó là cháu con.
Tới bực cháu Huyền tôn là chín (9),
Cháu Huyền tôn là chính Cửu Huyền.
Hợp thành số cửu (9) quá nguyên,
Cũng trong Cửu Tộc lưu truyền chẳng sai.
Cháu Huyền tôn là chính Cửu Huyền.
Hợp thành số cửu (9) quá nguyên,
Cũng trong Cửu Tộc lưu truyền chẳng sai.
Ðếm tới chín, bớt hai còn bảy (7),
Là bảy ông thảy thảy kêu chuyền.
Hiệp thành số cửu chi nguyên,
Nên kêu Thất Tổ Hậu Thiên không lìa.
Là bảy ông thảy thảy kêu chuyền.
Hiệp thành số cửu chi nguyên,
Nên kêu Thất Tổ Hậu Thiên không lìa.
Con đứng giữa đặng chia vay trả,
Vay ơn dày thì trả nghĩa sâu.
Tại vầy nên mới lo tu,
Lo tu đặng độ đền bù nghĩa nhơn.
Vay ơn dày thì trả nghĩa sâu.
Tại vầy nên mới lo tu,
Lo tu đặng độ đền bù nghĩa nhơn.
Người có đó nên người hơn thú,
Thú được vầy thú cũng bằng người.
Khuyên con chớ tưởng trò chơi,
Ráng công tu luyện nên người dễ chi!"
Thú được vầy thú cũng bằng người.
Khuyên con chớ tưởng trò chơi,
Ráng công tu luyện nên người dễ chi!"
* Thuở chưa khai Ðạo, trong một Đàn cơ ngày 7-1-1926, Ðức Chí Tôn giáng dạy Bà Cư (tức là Bà Hương Hiếu) phải lo đi phổ độ nhơn sanh vào Ðạo.
"Bà Cư bạch với Thầy rằng:
- Má con mắc ở xa, làm sao con đi độ được.
Thầy:
- Hiếu! Con biết một lòng tu niệm Đạo đức của con đủ cứu Cửu Huyền Thất Tổ, huống là mẹ con, để Thầy định đoạt, con đừng lo buồn...." (ÐS.I, trg. 36)
* Trong một Đàn cơ có Bát Nương giáng, Ngài Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt hỏi Bát Nương:
- Thân phụ và thân mẫu của Qua có được siêu không? Giờ đây ở đâu?
Bát Nương đáp:
- Em chỉ nói bằng thơ, nếu anh giảng trúng thì nói nữa, trật thì lui.
Ngài Thượng Trung Nhựt năn nỉ:
- Nếu qua nói trật thì em thương tình mà chỉ dẫn để qua học hỏi thêm với.
Bát Nương nói:
- Bạch Y Quan nay sanh Cực Lạc, Bá Phụ cùng bá Mẫu đặng an.
- Như vậy là thân phụ và thân mẫu trước ở cõi Bạch Y Quan, nay đã sang ở nơi Cực Lạc.
- Ðúng đó, ấy là nhờ công tu luyện của anh nên bá Phụ và bá Mẫu mới được siêu thăng nơi Cực Lạc.
* Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết Đạo ngày 15-10-Canh Dần (1950):
"Bần Đạo nói thật, thời buổi nầy, chúng ta không tìm phương giải thoát cho Cửu Huyền Thất Tổ thì không có thời buổi nào có năng lực độ rỗi Cửu Huyền Thất Tổ của mình đặng.
Bởi thế nên toàn thể con cái Ðức Chí Tôn, Nam Nữ cũng vậy, có tấm lòng yêu ái nồng nàn hoài vọng giọt máu, mảnh thân hình, giờ phút nầy là giờ phút nên để trọn tâm cho thanh tịnh đặng cầu nguyện siêu thoát cho Cửu Huyền Thất Tổ.
Bần đạo dám nói: Giờ phút nầy, mấy người có thể nhỏng nhẻo với Ðức Chí Tôn được. Ngài sẵn sàng để hai chữ Ân xá thì mấy người xin cái gì thì ổng cũng cho cái nấy."
* Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu:
Nguyện cùng Thất Tổ xin thương,
Cho bền gan tấc noi đường thảo ngay.
Âm Dương đôi nẻo như nhau,
Cửu Huyền Thất Tổ giữ câu thọ trì.
Cho bền gan tấc noi đường thảo ngay.
Âm Dương đôi nẻo như nhau,
Cửu Huyền Thất Tổ giữ câu thọ trì.
* * *
LÂP BÀN THỜ CỬU HUYỀN THẤT TỔ
(Trích Quyển Bước Đầu Học Đạo - Tác giả: HT. Nguyễn văn Hồng)
Sau khi lập Thiên Bàn thờ Đức Chí Tôn rồi, gia chủ nên lập thêm Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ tại nhà mình.
Thường thì Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thiết lập gần bên Thiên Bàn cho thuận tiện việc cúng kiếng.
Nếu trong nhà đã có sẵn Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ hay Bàn thờ Tổ Tiên rồi thì nên chỉnh đốn cho đúng theo khuôn mẫu của Đạo lập nên.
Ngoài ra, khi lập Thiên Bàn rồi thì những Bàn thờ nhỏ trước đây như: Bàn thờ Đức Quan Thánh, Bàn thờ Đức Quan Âm Bồ Tát, Bàn thờ Đức Mẹ Sanh v. v . thì nên dẹp hết, vì trên Thiên Bàn đã có thờ đủ các Đấng ấy rồi.
Chúng ta thờ Đức Chí Tôn vì Đức Chí Tôn là nguồn gốc Thiêng liêng của linh hồn của ta.
Chúng ta thờ Cửu Huyền Thất Tổ vì Cửu Huyền Thất Tổ là nguồn gốc phàm trần của xác thân ta.
Chúng ta hiện diện trong cõi đời hiện tại đây là do hai nguồn gốc đó, nên chúng ta phải phụng thờ đầy đủ.
Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ có viết chữ Cửu Huyền Thất Tổ bằng chữ Nho đại tự, 4 chữ thẳng đứng, hai bên có đôi liễn thờ.
Xin đề nghị đôi liễn sau đây, tùy nghi gia chủ sử dụng, hoặc đổi đôi liễn khác. (Đôi liễn nầy tại Bùi Phủ Từ).
Đôi liễn:
- Sùng đức Cửu Huyền ân thượng trọng,
- Tôn công Thất Tổ nghĩa cao thâm.
Nghĩa là:
- Kính cái đức độ của Cửu Huyền, ơn cao trọng,
- Tôn cái công nghiệp của Thất Tổ, nghĩa cao sâu.
Cách chưng bày các món trên Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ, lấy theo mẫu Bàn thờ PHƯỚC LỘC THỌ (thờ ông bà chung) nơi hậu điện Báo Ân Từ:
CỬU HUYỀN THẤT TỔ
1- Đèn vọng.
2- Dĩa trái cây.
3- Bình bông.
4- Chung nước trà.
5- Ly rượu.
6 & 7- Cặp đèn nghi.
8- Lư hương (cắm 3 cây hương).
Thờ cúng Cửu Huyền, ý nghĩa: mình là cháu 9 đời, thờ các bậc Tổ Tiên 9 đời trước mình.
Thờ Cửu Huyền Thất Tổ là để tỏ lòng kính trọng Tổ Tiên mà trong buổi sanh tiền đã dày công giáo hóa, chỉ dẫn công việc làm ăn, dạy bảo cử chỉ hành động sao cho tốt đẹp, hợp đạo đức, để phát huy sự nghiệp làm rạng rỡ Tổ Tiên.
Sau đây là bảng giải thích Hệ thống Cửu Huyền (9 đời) và Thất Tổ (7 vị Tổ) của dòng họ:
Hệ thống Cửu Huyền:
Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012
CÂU KHẤN NGUYỆN TRƯỚC KHI ĂN
CÂU KHẤN NGUYỆN TRƯỚC KHI ĂN
Con tên … pháp danh … con xin dâng tất cả thực phẩm đang có lên cúng dường mười phương ba đời Chư Phật, Chư đại Bồ Tát, Chư vị Thánh Chúng, từ bi chứng minh nạp thọ tất cả thực phẩm này; Và xin gia hộ biến thực phẩm này thành cam lồ; Xin bố thí cho chúng sanh muôn loài khắp mười phương pháp giới; Những loài chúng sanh nào đang thiếu đói nương nhờ thực phẩm này mà no đủ, và sau khi no đủ rồi thì xin hồi tâm hướng thiện qui y Tam Bảo và tu hành cho đến ngày giác ngộ giải thoát.
Con xin ăn phần thừa còn lại để nuôi thân này tu đúng chánh pháp cho tới ngày giác ngộ giải thoát.
Đồng cầu nguyện khắp tất cả chúng sanh muôn loài đều nương nhờ từ lực Tam Bảo tinh tấn tu hành để phước đức trí tuệ mỗi ngày tăng trưởng cho đến ngày giác ngộ giải thoát.
Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012
Phật Di Lặc - biểu tượng tuyệt đối của hạnh phúc
Bày tượng Phật ở cung Đông Nam của phòng khách, phòng lễ tân hoặc của toàn bộ ngôi nhà để gia tăng vận may tài lộc.
Bồ Tát Di Lặc được coi là vị Phật thứ 5, vị Phật cuối cùng sẽ xuất hiện trên trái đất sau khoảng 30.000 năm nữa, thay thế Phật Thích ca Mâu Ni.
Trong Phật giáo Tây Tạng, Di Lặc được thờ cúng rất rộng rãi. Ở thế giới hiện đại, hình ảnh vị Phật này hiện hữu khắp mọi nơi: cửa hàng, khách sạn, nhà riêng, chùa chiền…
Trong tranh tượng, Phật Di Lặc thường ngồi trên ngai vàng, chân bắt chéo hoặc đặt xuống sàn, với hàm ý sẵn sàng đứng dậy đi giáo hóa chúng sinh. Ở những hình ảnh ban đầu, Di Lặc được mô tả như một vị hoàng tử thanh mảnh, tuấn tú, thường mặc trang phục hoàng gia Ấn Độ.
Một hiện thân khác của Di Lặc.
Tại Trung Quốc, Bồ Tát Di Lặc hay được trình bày với dáng vẻ mập mạp, hiền hòa, tự tại, miệng tươi cười, bụng phơi ra, trẻ con đeo xung quanh.
![]()
Di Lặc và trẻ em.
|
Người ta tin rằng đó chính là hình ảnh của Bố Đại (tức là Hòa thượng Túi Vải), một Thiền Sư Trung Quốc ở thế kỷ thứ 10. Tương truyền, nhà sư có tướng người mập mạp, trán hẹp, bụng lớn, nói năng vô định, ngủ nghỉ tùy chỗ, thường dùng một cây gậy, quẩy một túi vải để đựng những vật người cúng dường. Ông được khâm phục vì có tài tiên tri thời tiết nắng mưa. Trước khi viên tịch, Hòa Thượng nói bài kệ:
"Di Lặc, chân Di Lặc
Phân thân trăm nghìn ức
Thường hiện cho người đời
Người đời không ai biết"
Sau khi viên tịch, người dân vẫn thấy Bố Đại mang túi vải xuất hiện ở châu khác. Tin rằng ông chính là hóa thân của Di Lặc, người đời sau thường thể hiện hình ảnh Phật Di Lặc dưới dạng một Bố Đại mập tròn vui vẻ.
![]()
Tượng Bồ Tát Di Lặc tại một ngôi đền ở Trung Quốc.
|
Phật Di Lặc trong Phong thủy
Còn gọi là "Phật Cười", Di Lặc là biểu tượng tuyệt đối của hạnh phúc trong phong thủy. Theo truyền thuyết, niềm vui lớn nhất của vị Bồ Tát này là biến những buồn phiền, giận giữ, áp lực hay căng thẳng của con người thành hạnh phúc. Người ta tin rằng nụ cười nội tâm của Di Lặc mạnh tới mức nó luôn tỏa sáng trên khuôn mặt hiền từ và, Phật tới đâu ở đó có hạnh phúc.
Di Lặc cũng được coi là biểu tượng của sự hài hòa, niềm vui vô tư lự. Chỉ cần nhìn ngắm khuôn mặt Phật, người buồn phiền cũng có thể thấy vui lên. Xoa bụng Phật được cho là mang lại vận may và sự tốt lành.
![]() Bụng Phật càng to, may mắn càng nhiều. |
Tượng trưng cho thịnh vượng, Di Lặc thường được gắn với các biểu tượng giàu sang như đồng tiền, thỏi vàng và chiếc túi được cho là chứa rất nhiều châu báu. Đôi khi Phật cũng mang theo quả Hồ lô, biểu tượng của sức khỏe và trường thọ hoặc chiếc Gậy như ý, biểu tượng của quyền lực. Người ta thích chọn tượng Phật có khuôn mặt cười hả hê, với mong muốn nhận được nhiều niềm vui và mọi sự như ý.
Cách bài trí tranh và tượng Phật Di Lặc
Bày tượng Phật đối diện với cửa chính: nhiều nhà phong thủy khuyên nên đặt tượng Phật Di Lặc ở độ cao khoảng 1m, nhìn thẳng ra cửa nhà. Vị trí này được cho là giúp Phật biến toàn bộ khí vào nhà thành năng lượng tốt. Nếu không có được vị trí lý tưởng nói trên, hãy bày tượng ở một chiếc bàn cạnh tường hoặc ở góc xa nhất của phòng, đối mặt với cửa chính.
Đặt tranh hoặc tượng Phật ở cung Đông của ngôi nhà hay phòng khách để tạo sự hài hòa cho cả gia đình và hóa giải mọi rắc rối, cãi cọ.
Bày tượng Phật ở cung Sinh Khí của bạn để tăng vận may tài lộc, sức khỏe và thành công.
Bày tượng Phật ở cung Đông Nam của phòng khách, phòng lễ tân hoặc của toàn bộ ngôi nhà để gia tăng vận may tài lộc.
Với những người làm việc trong môi trường cạnh tranh, ví dụ người nắm giữ những vị trí chủ chốt của công ty, các chính trị gia… đặt Phật Di Lặc ở nơi làm việc hoặc tại nhà giúp mang lại may mắn và loại bớt sự thù địch. Hình ảnh của Phật cũng giúp tâm trí minh mẫn và giảm bớt căng thẳng.
Đặt tượng Phật trong xe ô tô giúp giảm bớt lo âu, tránh tai nạn và mang lại tin vui.
Bày tượng Phật ở bàn làm việc để giảm bớt căng thẳng và tranh cãi với đồng nghiệp, đồng thời giúp bạn hoàn thành công việc tốt hơn.
Học sinh muốn đạt thành tích cao có thể đặt tượng Di Lặc trên bàn học để tăng cảm hứng học tập.
Tượng Phật Di Lặc là một vật phẩm hết sức hữu hiệu giúp hóa giải Tam Bích (số 3 - sao cãi cọ). Màu vàng của tượng (đại diện cho hành Kim) sẽ tiêu diệt năng lượng Mộc của Tam Bích. Trong năm 2012, ngôi sao cãi cọ này nằm ở cung Tây Nam ngôi nhà của bạn.
Phật Di Lặc có thể là món quà lý tưởng cho bất cứ dịp vui nào. Với người đang gặp nhiều rủi ro, đây cũng là món quà hết sức ý nghĩa.
Chú ý: Không bày tượng Phật trong phòng tắm, nhà bếp, phòng ngủ hay đặt trực tiếp trên sàn nhà.
Hùng Sơn
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)









